Quốc huy
Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử xã Vũ Thư, tỉnh Hưng Yên!

Kỷ niệm 80 năm (28/8/1945-28/8/2025) ngày truyền thống Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, xin gửi tới quý bạn đọc loạt bài viết về lịch sử 80 năm truyền thống của các ngành.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH XÂY DỰNG (1945-2025)

THỜI KỲ TRƯỚC HỢP NHẤT NGÀNH GTVT VÀ NGÀNH XÂY DỰNG

1. Đối với ngành Giao thông vận tải:

1.1. Quá trình trưởng thành và phát triển:

Ngày 28/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Bộ Giao thông công chính, nay là Bộ Giao thông vận tải. Từ đó ngày 28/8 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành GTVT Việt Nam.

Ngành GTVT Việt Nam đã trải qua 80 năm tồn tại và phát triển, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của đất nước qua nhiều thời kỳ sôi nổi, hào hùng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đó nói: “Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ”. Câu nói giản dị của Bác không chỉ nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của GTVT trong sự nghịệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là lời nhắc nhở nhiệm vụ đối với những người làm công tác giao thông vận tải trong quá khứ, hiện tại và tương lai sau này. Có thể nói lịch sử hình thành, phát triển và trưởng thành của mình, lớp lớp thế hệ cán bộ, công nhân, lao động ngành GTVT Việt Nam luôn theo lời chỉ dạy của Bác Hồ, luôn nỗ lực phấn đấu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng giao thông đã cùng nhân dân phá cầu, đường nhằm làm thất bại ý đồ "Đánh nhanh thắng nhanh của Địch". Tiếp đó là nhiệm vụ bảo đảm giao thông, liên lạc, khôi phục và làm mới nhiều tuyến đường, cầu tạm, bến phà, tổ chức lực lượng vận tải thô sơ, dân công hoả tuyến và xây dựng lực lượng vận tải cơ giới, phục vụ cho các mặt trận trên cả nước.

Đặc biệt, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ngành GTVT đã sát cánh cùng bộ đội, TNXP, dân công hoả tuyến mở đường cho xe cơ giới phục vụ đắc lực cho các đoàn xe đạp thồ vận chuyển lương thực, vũ khí ra mặt trận.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của nhân dân ta. Ngành GTVT và những đồng chí tiêu biểu đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng là các đồng chí: Ngô Gia Khảm, Lê Minh Đức, Trương Sĩ, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Thị Lượng và biết bao Anh hùng vô danh khác!

 Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân ta đã góp biết bao công sức, chấp nhận mọi tổn thất, hy sinh vì sự sống của con đường ra tiền tuyến với tấm lòng "Xe chưa qua, nhà không tiếc", tạo nên thế trận và sức mạnh giao thông vận tải nhân dân. Điều đó đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi nhận trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc Hội khoá III - kỳ họp thứ 4 (5-1968): "... Cuộc chiến đấu trên mặt trận GTVT ở khắp Miền Bắc là một thiên anh hùng ca của chiến sỹ GTVT và của đồng bào ta dọc các tuyến đường".

Với tinh thần cách mạng tiến công "Mở đường mà đi, đánh địch mà tiến", lực lượng tự vệ GTVT đã trực tiếp chiến đấu, bắn rơi 95 máy bay các loại; cùng với quân dân các địa phương bắt sống 18 giặc lái; rà phá hơn 16.000 trái bom từ trường v.v...

1.2. Kết quả tiêu biểu:

1.2.1. Đối với ngành giao thông vận tải Hưng Yên (cũ):

Năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập cùng với đó ngành GTVT Hưng Yên được hình thành; yêu cầu về sự nghiệp phát triển giao thông vận tải là rất lớn trong đó việc đầu tư cải tạo nâng cấp, xây dựng mới nhiều tuyến đường của tỉnh là một yêu cầu quan trọng và cấp bách nhằm đáp ứng cho sự phát triển kinh tế xã hội một tỉnh mới, CBCNV của toàn ngành cùng chung với tình hình cán bộ CNV của tỉnh đã nỗ lực rất cao khắc phục khó khăn thiếu thốn về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc.

Với tinh thần chủ động sáng tạo và năng động của CBCNVC trong ngành, sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, sự hỗ trợ của các Bộ, Ngành trung ương có thể nói sau một thời gian không dài, mạng lưới đường giao thông của tỉnh có một bước phát triển đáng kể đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của tỉnh; điển hình của thời kỳ này là bến phà Yên Lệnh (năm 1997), QL5 (năm 1999); QL39 (năm 2003); dự án GTNT 2 (WB2-năm 2001-2006) đã được đầu tư trên 300 Km đường và hàng trục cây cầu cho GTNT và nhất là cầu Yên Lệnh (năm 2004), tạo ra sự thông thương, vị thế quan trọng cho tỉnh và thành phố Hưng Yên, là ước mơ bao đời của người dân Hưng Yên. Ghi nhận những thành tích đạt được của ngành GTVT Hưng Yên, Chính phủ, Bộ GTVT, UBND tỉnh đã tặng nhiều phần thưởng cao quý, nhiều bằng khen cho tập thể, cá nhân.

Thời kỳ này, mạng lưới đường giao thông tiếp tục được quan tâm đầu tư nâng cấp, đối với hệ thống đường TW đường cao tốc Hà Nội – HP 4 được đầu tư xây dựng, hoàn thành dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 38B, các dự án xây dựng cầu Lực Điền, cầu Tràng, cầu Cáp trên QL38B, dự án cải tạo nâng cấp QL.38, cùng với đó các tuyến đường tỉnh được đầu tư: dự án đường tỉnh lộ 200, dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội (ĐT.379), khởi công tuyến đường bộ nối cao tốc Hà Nội – Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình,… đặc biệt dự án nâng cấp, mở rộng QL 39 đoạn qua thành phố Hưng Yên đã đưa thành phố Hưng Yên lên diện mạo mới, vị thế mới, với hệ thống kết cấu hạ tầng khá bền vững; nhiều tuyến đường tỉnh, đường huyện đã được sửa chữa định kỳ và nâng cấp cải tạo giúp cho các tuyến đường giao thông lớn quan trọng của tỉnh thực hiện được chức năng mạch máu giao thông quan trọng giúp cho kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên phát triển nhanh, mạnh trong thời gian qua. Đẩy mạnh phát triển năng lực vận tải, nhất là vận tải hành khách đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân là sự ưu tiên lớn của ngành trong thời gian vừa qua; thực hiện chủ trương phát triển các thành phần kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Sở GTVT đã chỉ đạo và tham mưu kịp thời với tỉnh khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế đầu tư phương tiện, phát triển thêm các loại hình vận tải khách như vận tải khách bằng xe buýt, xe taxi để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.

Tham mưu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành một số Nghị quyết, Chương trình hành động quan trọng để làm căn cứ hoạch định đầu tư phát triển giao thông vận tải, cụ thể: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TU về Chương trình phát triển giao thông, vận tải tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030; UBND tỉnh đã ban hành Chương trình số 107/CTr-UBND triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU; phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030.

Kết cấu hạ tầng giao thông đã có sự phát triển vượt bậc, nhiều công trình quan trọng, thiết yếu được đưa vào sử dụng, cụ thể: Tuyến đường bộ nối cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình và cầu Hưng Hà: Tuyến đường đã thi công hoàn thành giai đoạn 1 và được thông xe ngày 26/01/2019, đây là tuyến giao thông quan trọng kết nối với Thủ đô Hà Nội (thông qua cao tốc HN-HP) nhanh nhất, đồng thời kết nối với các tỉnh Thái Bình, Hà Nam và đi phía Nam; Tuyến đường vành đai 3,5, vành đai 4 – Hà Nội đã được quy hoạch chi tiết và cắm mốc quy hoạch ngoài thực địa, trong đó vành đai 4 đã có nhà đầu tư đề xuất với UBND thành phố Hà Nội đầu tư dự án theo hình thức BOT; dự án nâng cấp, mở rộng QL38 đoạn qua địa bàn tỉnh Hưng Yên; phối hợp hoàn thành dự án xây dựng cầu La Tiến;…

Ngành GTVT cũng đã phối hợp với các địa phương và các ngành chức năng, chỉ đạo triển khai thực hiện Luật Giao thông đường bộ, các Chỉ thị 18, Kết luận 45-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng; triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp theo tinh thần các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ về bảo đảm trật tự ATGT, lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động GTVT nên tai nạn giao thông đều giảm cả 3 tiêu chí... Hoạt động vận 5 tải tiếp tục được tăng cường, phương tiện vận tải tiếp tục phát triển nhanh để đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển ngày càng tăng của nhân dân; các công tác khác của ngành đều đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Là một ngành có vai trò quan trọng, đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong thời gian tới cần có tốc độ phát triển nhanh, mạnh và để sớm trở thành một tỉnh công nghiệp, thì GTVT cần phải đi trước một bước; cùng với vị trí địa lý của tỉnh Hưng Yên nằm trong trung tâm của vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng trọng điểm kinh tế của miền Bắc tiếp giáp nhiều với Thủ đô Hà Nội, Hưng Yên có vị thế rất quan trọng, hiện nay Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương và các tỉnh bạn đang quy hoạch và đầu tư xây dựng nhiều tuyến đường giao thông lớn và quan trọng liên quan đến Hưng Yên, nếu mạng lưới giao thông của tỉnh được quy hoạch, kết nối tốt sẽ là lợi thế khai thác; là điều kiện, là động lực lớn, quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh tiến nhanh hơn trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Trong những năm tới, công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh của tỉnh tiếp tục đặt cho ngành GTVT những yêu cầu, nhiệm vụ và thách thức mới, hết sức nặng nề, đòi hỏi ngành GTVT phải nỗ lực phấn đấu, cùng các ngành, các cấp và toàn xã hội vượt qua khó khăn, thử thách để tạo ra chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển KCHTGT. Trên cơ sở những thành quả và bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai thực hiện, ngành GTVT sẽ tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau đây để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông.

1.2.2. Đối với ngành giao thông vận tải Thái Bình (cũ):

Ngày 1/8/1955, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định tách Thuỷ lợi, Kiến trúc và Giao thông thành Ty Giao thông và Ty Thuỷ lợi. Năm 1960, Ty Giao thông được đổi tên là Ty Giao thông vận tải. Ban đầu Ty Giao thông chỉ có 14 cán bộ. Đến cuối năm 1959, Văn phòng đã có 50 CBCNV, Chi bộ Đảng với 10 đảng viên, trên 400 công nhân viên, hàng trăm xã viên hoạt động trên các Công trường đường 10, đường 39B, đường 218, các xí nghiệp công tư hợp doanh, tổ cầu, các bến phà, các cung bảo dưỡng đường bộ, các HTX vận tải thuyền buồm và xe thô sơ,.... ngành giao thông vận tải Thái Bình vừa kiện toàn bộ máy vừa khôi phục lại hệ thống giao thông, cầu cống và phát triển mạng lưới vận tải phục vụ sản xuất, dân sinh và quốc phòng.

Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965, ngành GTVT từng bước xây dựng cơ sở vật chất, phát triển vận tải thuỷ bộ; tập trung tu sửa, nâng cao các tuyến đường tỉnh, đường huyện trên địa bàn; phục hồi đường sông, sửa chữa các cầu lớn đảm bảo giao thông vận tải và sự giao thương được thuận lợi.

Trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ từ 05/8/1964-1968 ngành GTVT hoạt động trên mặt trận đầy cam go, ác liệt. Từ thời bình sang thời chiến. Văn phòng Ty và các đơn vị trực thuộc được sơ tán kịp thời. Lực lượng trực tiếp bám đường, bám phà sẵn sàng phục vụ chiến đấu và sản xuất. Mỗi cán bộ, CNV, xã viên ngành GTVT là một chiến sỹ dũng cảm 6 trên những cung đường, bến phà, dòng sông, chuyến xe,... bảo đảm giao thông an toàn, liên tục.

Từ 1969-1971, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, ngành GTVT tỉnh nhà tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Khẩn trương hoàn thành quy hoạch giao thông, củng cố các tuyến đường liên huyện, liên tỉnh, phát triển mạnh mẽ giao thông đường bộ và đường thuỷ; mở rộng Xí nghiệp đóng thuyền và ca nô, tổ chức kho, bến bãi và lực lượng bốc dỡ, tận dụng công suất phương tiện vận chuyển. Đặc biệt chú ý xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân vận tải có đạo đức cách mạng tốt, có trình độ kỹ thuật cao; chấp hành nghiêm chính sách của Nhà nước; chống tham ô lãng phí, thiếu trách nhiệm đối với tài sản của Nhà nước, của nhân dân, chống vi phạm luật lệ giao thông, vi phạm pháp luật, đảm bảo an toàn giao thông, phục vụ tốt sản xuất, chiến đấu và đời sống.

Từ 1972-1975, ngành GTVT đã góp phần to lớn vào chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ và hàn gắn vết thương chiến tranh. Tháng 4/1972, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 ra miền Bắc. Tăng cường công tác bảo đảm an toàn giao thông vận tải trong tình hình mới, Ngành đã đảm bảo giao thông thông suốt trong mọi tình huống, thành lập đơn vị thanh niên xung phong. Tập trung cho vận tải hàng hoá, lương thực vào chiến trường, chủ yếu là gạo, ngoài ra còn vận chuyển các mặt hàng thiết yếu như: than, xăng dầu, xi măng, phân lân....

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Công tác quy hoạch mạng lưới GTVT được chú trọng và triển khai. Thực hiện kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Ngành huy động sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước, vốn tự có của cơ sở và trong nhân dân, đẩy mạnh khai thác nguyên vật liệu địa phương duy tu, bảo dưỡng hệ thống đường hiện có bảo đảm thông suốt, cải tạo, nâng cấp và làm mới nhiều đoạn đường trục chính trên các tuyến quốc lộ 10, đường 39A, 39B, 217, 218, đường Đồng Châu, các cầu quan trọng như cầu Độc lập, cầu Đống Năm, cầu Diêm Điền,...Tham gia xây dựng đường sắt Thống Nhất. Công tác giao thông vận tải ở nông thôn vừa phục vụ đời sống và quốc phòng vừa góp phần phân công lại lao động, giảm chi phí sản xuất, xây dựng nông thôn mới, gắn tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp và xây dựng cấp huyện. Công nghiệp GTVT phát triển mạnh.

Từ năm 1986 bước vào thời kỳ đổi mới, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường trong khi đất nước chưa thoát khỏi khủng hoảng, ngành Giao thông vận tải Thái Bình gặp không ít khó khăn. Nghiêm chỉnh chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, Bộ Giao thông vận tải, các ngành hữu quan và nhân dân, ngành GTVT tổ chức thực hiện có hiệu quả mọi mặt hoạt động. Công tác đào tạo nguồn nhân lực, củng cố kiện toàn bộ máy quản lý được từng bước nâng cao, các doanh nghiệp quốc doanh được cổ phần hoá; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được tổ chức và sắp xếp, đổi mới phương thức hoạt động. Đổi mới cơ chế quản lý, các doanh nghiệp trong ngành đều hoạt động hiệu quả.

Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông tỉnh Thái Bình phù hợp với qui hoạch phát triển tổng thể KTXH tỉnh, qui hoạch phát triển GTVT toàn quốc và 7 các ngành khác, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường. Qui hoạch được thực hiện đồng bộ giữa các loại hình giao thông: sắt, bộ, thuỷ; giữa kết cấu hạ tầng với quản lý, khai thác. Ngành đã tiến hành lập Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa tỉnh Thái Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát là giảm tải cho giao thông đường bộ, giảm chi phí vận tải cho xã hội và tăng cường an toàn giao thông. Mạng lưới giao thông đường bộ của tỉnh dần hoàn thiện, đã có bước phát triển, hàng loạt công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, tạo thuận lợi sự thông thương giữa Thái Bình với các tỉnh.

Những năm gần đây, giao thông tăng lên nhanh chóng. Nhiều dự án lớn đã hoàn thành như Dự án Quốc lộ 39 đoạn từ Minh Tân đến Thị trấn Đông Hưng, từ Ngã tư Gia Lễ đến Vô Hối, mở rộng Quốc lộ 10 từ La uyên đến Tân Đệ, Cầu Hiệp, cầu Diêm Điền, cầu Trà Linh, cầu Trà Giang, Quốc lộ 37B Từ Thanh Nê đi Cồn Nhất, cải tạo nâng cấp hệ thống đường giao thông nông thôn bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới...

2. Đối với ngành Xây dựng:

2.1. Quá trình trưởng thành và phát triển:

Ngày 29/4/1958, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã ra Nghị quyết tách Bộ Thủy lợi - Kiến trúc để thành lập 2 bộ: Bộ Thủy lợi và Bộ Kiến trúc. Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) thực hiện chức năng giúp Chính phủ quản lý về kiến trúc, quy hoạch xây dựng, kiến thiết cơ bản, nhà đất và sản xuất VLXD.

Từ đó đến nay, ngành Xây dựng luôn giữ vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là lực lượng chủ yếu tạo ra tài sản cố định, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong suốt 67 năm xây dựng và trưởng thành, trải qua các giai đoạn phát triển với những tên gọi khác nhau gắn với những nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ lịch sử, ngành Xây dựng đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao, luôn giữ vững và khẳng định được vị trí, vai trò là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có những đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, tuy còn non trẻ nhưng lực lượng xây dựng của Ngành đã nhanh chóng phát triển, tích cực tham gia thực hiện thành công các nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn phát triển và cải tạo kinh tế cũng như tham gia vào cuộc chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ đối với miền Bắc, dốc sức chi viện cho miền Nam. Lực lượng lao động của Ngành đã trực tiếp thi công hàng trăm công trình lớn nhỏ như: Nhà máy Thủy điện Lào Cai, Uông Bí, Thác Bà, các công trình hóa chất ở các KCN Việt Trì, gang thép Thái Nguyên... xây dựng các trường đại học, bệnh viện, khách sạn, các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình phúc lợi, nhà ở, sân bay Đa Phúc, Kép, Hòa Lạc, Gia Lâm, Cát Bi, Sao Vàng, các công trình dẫn dầu, các công trình phòng không... Hầu hết các công trình này đều hoàn thành đúng tiến độ, đưa vào sử dụng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ an ninh, quốc phòng.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc; cùng với cả nước, ngành Xây dựng bước sang thời kỳ mới, thời kỳ khôi phục sau chiến tranh và xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Lực lượng của Ngành đã nhanh chóng được tổ chức, tập hợp, sắp xếp và điều tiết lại trong cả nước, hình thành bộ máy quản lý và các tổ chức xây dựng ở miền Nam, tăng cường các tổ chức xây dựng ở miền Bắc để thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội.

Nhiều công trình quan trọng đã được khởi công xây dựng và hoàn thành đúng tiến độ, tiêu biểu như: Thủy điện Hòa Bình, Trị An, Nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Nhà máy super phốt phát Lâm Thao, Giấy Bãi Bằng, Apatit Lào Cai, Nhà máy Kính Đáp Cầu, Giấy Tân Mai, Xi măng Hà Tiên, công trình dầu khí Vũng Tàu, Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt - Xô, Bảo tàng Hồ Chí Minh... thể hiện bước tiến nhảy vọt và cống hiến đáng ghi nhận của Ngành đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.2. Kết quả tiêu biểu:

2.2.1. Đối với ngành Xây dựng Hưng Yên (cũ):

Tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ Sông Hồng, trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có vị trí đia lý - kinh tế rất thuận lợi. Là tỉnh tiếp giáp và là cửa ngõ Đông Nam của Thủ đô Hà Nội, có các trục giao thông chính, quan trọng nối Hưng Yên với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh tao thành mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy rất thuận lợi Hưng Yên có diện tích tự nhiên trên 926km2, dân số 1,2 triệu người, có 55 vạn người trong độ tuổi lao động, đa số đều là lực lượng lao động trẻ, khỏe với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo gần 40%. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các năm qua đã tạo cho Hưng Yên những lợi thế mới về vị trí địa lý mới kinh tế và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của vành đai phát triển công nghiệp của các tỉnh phía Bắc. Sự hình thành và phát triển các tuyến hành lang kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế của tỉnh trong việc thu hút, quy hoạch, đầu tư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị, các dự án phát triển nhà ở thương mại và các khu, cụm công nghiệp vào đầu tư trên địa bàn tỉnh.

2.2.2. Đối với ngành Xây dựng Thái Bình (cũ):

Tháng 6/1954, Thái Bình được giải phóng, ta tiếp thu những người làm kỹ thuật và đội công nhân thuộc tổ chức chính quyền Ngụy quyền, cùng với Ty Công chính, ta tổ chức, sắp xếp lại vẫn gọi là Ty Giao thông Công chính thực hiện các chức năng về giao thông vận tải, thủy lợi, kiến trúc. Đến cuối năm 1956 tách ra làm 02 ty, Ty Giao thông vận tải và Ty Thủy lợi Kiến trúc. Trong Ty Thủy lợi Kiến trúc có phòng Kiến trúc.

Ngày 29/4/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng). Một năm sau, vào ngày 03/10/1959 Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Thái Bình đã ban hành quyết định thành lập Ty Kiến trúc Thái Bình (nay là Sở Xây dựng Thái Bình) trực thuộc Uỷ ban hành chính tỉnh trên cơ sở được tách ra từ Phòng Kiến trúc. Với chức năng tham mưu giúp Tỉnh quản lý 9 nhà nước về các lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị; kiến thiết cơ bản, nhà đất và vật liệu xây dựng.

Trong suốt 67 năm xây dựng và trưởng thành, trải qua các giai đoạn phát triển với những tên gọi khác nhau, gắn với nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ lịch sử; ngành Xây dựng luôn khẳng định vị thế là ngành kinh tế- kỹ thuật trọng yếu của tỉnh, là lực lượng chủ yếu trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy có bước thăng trầm khác nhau nhưng ở thời kỳ nào ngành Xây dựng Thái Bình cũng có những đóng góp to lớn, đánh dấu quá trình trưởng thành, phát triển đi lên của ngành.

THỜI KỲ SAU HỢP NHẤT NGÀNH GTVT VÀ NGÀNH XÂY DỰNG

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy; đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Sở Giao thông vận tải hợp nhất với Sở Xây dựng lấy tên là Sở Xây dựng tỉnh Hưng Yên.

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp và anh hùng của hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình; của ngành Giao thông vận tải và ngành Xây dựng; Phát huy những thành tựu đã đạt được, toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, lao động ngành Xây dựng Hưng Yên quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu mà ngành đã đề ra cho những năm tiếp theo, cụ thể:

1. Về quy hoạch xây dựng: Tiếp tục rà soát, nghiên cứu tham mưu UBND tỉnh quy hoạch xây dựng mới, điều chỉnh, bổ sung, mở rộng các đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư, đường giao thông..... đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh.

2. Về phát triển đô thị: Cùng với chính quyền các huyện tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh mở rộng quy hoạch các thị trấn, đô thi theo đúng Chương trình phát triển đô thị tỉnh đã được phê duyệt...; xây dựng các Chương trình phát triển đô thị, quy chế quản lý kiến trúc tại các đô thị thuộc các huyện, thành phố. Đồng thời đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển đô thị, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh; thúc đẩy mạnh mẽ đô thị hóa theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu; khắc phục tình trạng ách tắc giao thông, ngập úng tại các đô thị; nghiên cứu thực hiện các mộ hình phát triển đô thị như đô thị thông minh, đô thị xanh...

3. Về Hạ tầng kỹ thuật: Từng bước nâng cao chất lượng và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, nông thôn; giải quyết triệt để các vấn đề thu gom xử lý rác thải; duy trì, nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước sạch cho nhân dân, đảm bảo người dân kể cả đô thị và nông thôn được sử dụng nước sạch.

4. Về quản lý và phát triển nhà ở và thị trường bất động sản: Tập trung thực hiện Chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh giai đoạn 5 năm và hàng năm; triển khai có hiệu quả các chương trình hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội; xây dựng cơ chế, chính sách, mô hình hợp lý để huy động các nguồn lực, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội nhất là tại khu vực đô thị, khu công nghiệp; đồng thời kiểm soát chặt chẽ thị trường bất động sản.

5. Về quản lý hoạt động đầu tư xây dựng: Tăng cường quản lý, kiểm soát chất lượng công trình, an toàn xây dựng; xây dựng và công bố kịp thời các bộ đơn 10 giá, chỉ số giá, giá vật liệu đến chân công trình; nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế và dự toán, kiểm tra nghiệm thu trước khi đưa công trình vào khai thác, gắn với việc đơn giản hóa cá TTHC, góp phần đẩy nhanh tiến độ thự hiện dự án; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra chuyên ngành xây dựng; công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong XDCB.

6. Về quản lý và phát triển vật liệu xây dựng: Quản lý, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên vật liệu xây dựng; đẩy mạnh chương trình phát triển vật liệu xây không nung, vật liệu xây dựng mới tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường; khuyến khích các doanh nghiệp tích cực đầu tư mở rộng các dây truyền và thiết bị hiện đại với mức tự động hóa cao, tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chặng đường phía trước mở ra nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức, ngành Xây dựng Hưng Yên mong muốn tiếp tục nhận được nhiều hơn nữa sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền; sự phối hợp, giúp đỡ của các cấp, các ngành; đồng thời kêu gọi mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành nêu cao tinh thần đoàn kết, tiếp tục phấn đấu, không ngừng đổi mới, sang tạo, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đưa sự nghiệp của ngành Xây dựng tiếp tục phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà trong giai đoạn mới, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Đoàn Thị Hoan
Nguồn tin: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Bản đồ hành chính Xã Vũ Thư
Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

373lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng73%
272 lượt đánh giá
Hài lòng8%
28 lượt đánh giá
Bình thường8%
28 lượt đánh giá
Không hài lòng0%
0 lượt đánh giá
Ý kiến khác12%
45 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
1.902.583
Tổng truy cập
1.937
Truy cập hôm nay
40
Đang online