Kỷ niệm 80 năm (28/8/1945-28/8/2025) ngày truyền thống Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, xin gửi tới quý bạn đọc loạt bài viết về lịch sử 80 năm truyền thống của các ngành.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NỘI VỤ (1945-2025)
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VẺ VANG CỦA NGÀNH NỘI VỤ
Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã đập tan chính quyền đế quốc và phong kiến tay sai thống trị gần một trăm năm, mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội. Ngày 28/8/1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc Giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ra Tuyên cáo. Chính phủ lâm thời có 15 vị Bộ trưởng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cơ cấu Chính phủ gồm 13 bộ, trong đó có Bộ Nội vụ và Bộ Lao động là 2 bộ đầu tiên được thành lập sau thành công của Cách mạng tháng Tám. Như vậy, ngày 28/8/1945 đã đi vào lịch sử, là ngày khai sinh ra Bộ Nội vụ và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Ngay từ khi thành lập, Bộ Nội vụ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (với nhiều tên gọi như Bộ Lao động, Bộ Cứu tế xã hội, Bộ Xã hội, Bộ Thương binh, cựu binh) đã thể hiện rõ tinh thần tiên phong, đặt nền móng cho nền hành chính của một quốc gia độc lập và thực hiện các chính sách xã hội. Các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức đã luôn giữ vững tinh thần tận tụy, phụng sự Tổ quốc và nhân dân, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Trong thời gian từ sau Cách mạng Tháng Tám đến trước ngày Toàn quốc kháng chiến, đây là một thời kỳ lịch sử tuy rất ngắn nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ghi nhận thắng lợi vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân tộc trong cuộc vùng lên oanh liệt, quật cường, đánh dấu buổi sinh thành của một chế độ mới, của chính quyền dân chủ nhân dân và của ngành công tác xây dựng, tổ chức, điều hành chính quyền - nhà nước kiểu mới mà cơ quan phụ trách chính là Bộ Nội vụ. Đóng góp to lớn của thời kỳ này là tổ chức xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân non trẻ; khẩn trương xây dựng, củng cố, bảo vệ thành công và phát huy tối đa công năng của hệ thống chính quyền cách mạng; phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh xây dựng cuộc sống mới, chống lại các thế lực thù trong, giặc ngoài.
Thời kỳ kháng chiến và kiến quốc, đây là thời kỳ vô cùng khó khăn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc, chúng ta vừa chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa tăng gia sản xuất, xây dựng đất nước. Thành tích to lớn, quan trọng trong thời kỳ này chính là tổ chức thành công cuộc tản cư, di chuyển chiến lược, đảm bảo giữ gìn và duy trì tốt cơ sở vật chất tối quan trọng cho toàn bộ cuộc kháng chiến. Trong đó, việc phối hợp tổ chức, bảo vệ thành công việc sơ tán toàn bộ cơ quan lãnh đạo Trung ương lên Việt Bắc thực sự là một kỳ tích. Tiếp tục củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân các cấp, biến chính quyền thành công cụ hữu hiệu chỉ huy và tổ chức cuộc kháng chiến, kiến quốc. Ngoài ra, Ngành Nội vụ cũng đã có đóng góp cho phong trào thi đua ái quốc với 3 mục tiêu chiến lược là: diệt giặc đói khổ, diệt giặc dốt nát, diệt giặc ngoại xâm. Các chính sách lao động thời kỳ này tập chung vào huy động sức dân, vừa tập chung kháng chiến, vừa kiến quốc.
Trong giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, ngành Nội vụ đã đảm đương, hoàn thành nhiều nhiệm vụ to lớn, nổi bật là: kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước; hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện cải tiến tổ chức, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế, cải tiến lề lối làm việc của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương; chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác cán bộ phục vụ kế hoạch 05 năm lần thứ nhất; chỉ đạo công tác bầu cử, xây dựng, củng cố chính quyền địa phương; xây dựng chế độ quản lý và chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu biên chế, tiền lương, chế độ chính sách và bảo hiểm xã hội; điều chỉnh địa giới hành chính và phê chuẩn phân vạch địa giới hành chính; công tác hộ tịch, quản lý hàng binh, Việt kiều; hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện các chế độ, chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, quân nhân và gia đình quân nhân; đẩy mạnh công tác quản lý nhà đất, công tác phòng cháy và chữa cháy... Ngoài ra, để phù hợp với tình hình mới, Ngành vừa phải tập trung giải quyết những vấn đề tồn đọng về công tác thương binh - liệt sỹ sau cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Bắc, vừa phải đón tiếp, ổn định chăm sóc đời sống đối với thương bệnh binh miền Nam tập kết, đồng thời vừa phải sửa đổi, cải tiến chính sách cho phù hợp với tình hình cách mạng trong giai đoạn mới.
Thời kỳ thống nhất, xây dựng xã hội chủ nghĩa trên cả nước và thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1975 đến nay, để góp phần xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, rất nhiều nhiệm vụ quan trọng đã được triển khai thực hiện và đạt được những kết quả, thành tích to lớn:
Một là, tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC (vượt mục tiêu giảm 10%) mà 3 đợt tinh giản biên chế trước đây không đạt kết quả. Điều đó, thể hiện quyết tâm chính trị và sự chỉ đạo quyết liệt, kiên quyết của Bộ, ngành Nội vụ để thực hiện và đạt mục tiêu đề ra đối với công việc hết sức quan trọng, phức tạp, nhạy cảm và tác động trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Hai là, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị TW 6 khóa XII về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, kiên quyết, kiên trì thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) hoạt động không hiệu quả. Về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính nhà nước (tính đến tháng 12 năm 2024): Đối với tổ chức hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ: đã giảm được 17 tổng cục và tổ chức tương đương Tổng cục, giảm 10 cục thuộc tổng cục và thuộc Bộ, giảm 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc Bộ, cơ bản giảm phòng trong Vụ (không tính Bộ Công an và Bộ Quốc Phòng); Đối với địa phương: đã giảm được 13 Sở và tương đương, giảm 2.590 phòng và tương đương thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện; Về đơn vị sự nghiệp công lập: đến hết năm 2023 còn 46.540 đơn vị (giảm 8.149 đơn vị, tương ứng 15,13%).
Đặc biệt năm 2025, thực hiện cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước, Bộ, ngành Nội vụ đã tập trung cao độ tham mưu Ban Chỉ đạo của Chính phủ thực hiện phương án sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Chính phủ theo tinh thần chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương với khối lượng công việc lớn chưa từng có. Tổ chức bộ máy Chính phủ khóa XV và khóa XVI (nhiệm kỳ 2026-2030) được tinh gọn còn 14 Bộ, 03 cơ quan ngang Bộ (giảm 04 Bộ và 01 cơ quan ngang Bộ); 05 cơ quan thuộc Chính phủ (giảm 03 cơ quan thuộc Chính phủ). Về tổ chức bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: Giảm 13/13 (tương ứng giảm 100%) tổng cục và tổ chức tương đương; giảm 509 (tương ứng giảm 76,2%) cục và tổ chức tương đương; giảm 232 (tương ứng giảm 57,4%) vụ và tổ chức tương đương; giảm 3.377 (tương ứng giảm 93,8%) chi cục và tương đương chi cục; giảm 205 đơn vị sự nghiệp công lập (trong đó, sắp xếp giảm 81/204 ĐVSNCL trong cơ cấu tổ chức tại Nghị định của Chính phủ, tương ứng giảm 39,7%).
Thực hiện Nghị định số 45/2025/NĐ-CP (tính đến ngày 30/3/2025) các địa phương đã giảm 345 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tương ứng giảm 29,1%), giảm 1.454 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (tương ứng giảm 17,5%). Khi thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp từ ngày 01/7/2025, thực hiện theo Nghị định số 150/2025/NĐ-CP, các địa phương dự kiến sẽ tiếp tục giảm 368 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tương ứng giảm 44,3% so với trước khi sáp nhập đơn vị hành chính); giảm 100% cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và thành lập các phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định.
Ba là, thực hiện có kết quả việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018 và Kết luận số 48-KL/TW ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 ngày 12/3/2019 và Nghị quyết số 35/2023/UBTVQH15 ngày 12/7/2023; Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 và Nghị quyết số 117/NQ-CP ngày 30/7/2023 của Chính phủ.
Thực hiện chỉ đạo theo Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/2/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặt ra yêu cầu nghiên cứu định hướng tiếp tục sắp xếp bỏ cấp hành chính trung gian (cấp huyện), xây dựng phương án tiếp tục sắp xếp cấp xã phù hợp với mô hình tổ chức mới, định hướng sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh; Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/2/2025, nghiên cứu định hướng sáp nhập một số đơn vị cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã, thực hiện mô hình địa phương 2 cấp (tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể) bảo đảm tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả"; … nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 15 đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua và chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025. Theo đó, sau khi sắp xếp, cả nước giảm 6.714 đơn vị hành chính cấp xã, từ 10.035 xuống còn 3.321 đơn vị. Cụ thể, số lượng xã, phường, và đặc khu sau sắp xếp là 3.321 đơn vị, bao gồm 2.636 xã, 672 phường và 13 đặc khu. Tỷ lệ giảm là 66,91% so với trước khi sắp xếp. Việc sắp xếp này nhằm mục tiêu tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi), đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong cấu trúc chính quyền địa phương của Việt Nam. Luật này chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương từ ba cấp (tỉnh, huyện, xã) sang hai cấp (tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và xã/phường/đặc khu trực thuộc).
Ngày 1/7/2025, 34 tỉnh, thành phố trong cả nước đã chính thức vận hành theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đây là mô hình chính quyền mới lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử Việt Nam, được cho là phù hợp với xu thế quốc tế, mang tính hiện đại và hướng đến hiệu quả quản trị cao hơn.
Bốn là, nỗ lực, quyết tâm xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, năng động, trách nhiệm và hiệu quả; chú trọng đổi mới đánh giá, xếp loại và xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; khuyến khích tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; phân cấp, phân quyền triệt để trong tuyển dụng, đổi mới nâng ngạch công chức, bỏ thi và thực hiện xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức nhằm giảm gánh nặng về thủ tục, quy trình, được sự đồng tình, thống nhất cao của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) đã bổ sung, sửa đổi một số nội dung mới nhằm thể hiện rõ quyết tâm xây dựng một nền công vụ minh bạch, trách nhiệm: liên thông cán bộ, công chức cấp xã với cấp tỉnh, thống nhất một chế độ công vụ từ Trung ương đến cấp xã; chuyển đổi phương thức quản lý cán bộ, công chức theo vị trí việc làm; thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; đánh giá, xếp loại công chức bằng các tiêu chí cụ thể gắn với tiến độ, số lượng, chất lượng, của kết quả sản phẩm theo vị trí việc làm (KPI)…
Năm là, tích cực tham mưu cho Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020; 2021- 2030, trong đó tập trung thực hiện 04 nội dung cơ bản gồm: Cải cách thể chế, trọng tâm là thủ tục hành chính; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Cải cách tài chính công và Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Một trong những điểm nổi bật trong công tác cải cách hành chính là đã ban hành và thực hiện có hiệu quả Bộ chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX, SIPAS). Để tạo sự bứt phá về cải cách thủ tục hành chính và triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, với trách nhiệm là cơ quan thường trực về cải cách hành chính, Bộ đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ có những chỉ đạo quyết liệt, kịp thời, toàn diện về cải cách thủ tục hành chính.
Sáu là, chủ trì tham mưu, trình Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; trình Trung ương ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp; tham mưu Ban Chỉ đạo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 và trình Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Bảy là, chính sách lao động - việc làm đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào, kể cả trong giai đoạn nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng, đình trệ hay trong điều kiện bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19. Thể chế thị trường lao động từng bước được hoàn thiện, trở thành giải pháp cơ bản tạo việc làm bền vững. Chính sách việc làm không chỉ hỗ trợ người lao động có việc làm, mà còn từng bước tác động vào chuyển dịch cơ cấu lao động theo địa bàn, theo ngành; đồng thời hỗ trợ người lao động yếu thế tham gia có hiệu quả vào thị trường lao động; góp phần chuyển dịch lao động phi chính thức sang chính thức, hỗ trợ lao động phi chính thức, góp phần thích ứng với quá trình già hoá dân số, những xu hướng việc làm mới như việc làm xanh, việc làm công bằng... Triển khai nhiều chương trình và giải pháp tạo việc làm đồng bộ, tích cực, hiệu quả; hàng năm giải quyết việc làm cho 1,5-1,6 triệu người; tỷ lệ thất nghiệp chung duy trì ổn định ở mức dưới 3%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%.
Tám là, lĩnh vực bình đẳng giới ngày càng được sự chú trọng, quan tâm. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới. Các văn bản quy phạm pháp luật khi được xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung đều được đánh giá tác động, thực hiện lồng ghép giới đối với những văn bản có vấn đề về giới. Bình đẳng giới bảo đảm thực chất hơn giữa nam và nữ, phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng, tầm ảnh hưởng lớn trong mọi mặt của đời sống xã hội. Chính vì vậy Việt Nam đã được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất và là một trong những nước hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 3 (MDG 3) về bình đẳng giới cũng như đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).
Chín là, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đã được đặc biệt quan tâm và thực hiện có hiệu quả. Chuẩn hóa các điều kiện, tiêu chuẩn xem xét công nhận người có công với cách mạng theo đúng nguyên tắc chặt chẽ, thật sự xứng đáng, tôn vinh đúng đối tượng. Chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân được quy định thống nhất, rõ ràng; kịp thời bổ sung cả về đối tượng và chế độ thụ hưởng đối với người có công, thân nhân người có công với cách mạng; mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công được điều chỉnh phù hợp với lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu. Đến nay, xác nhận được trên 9,2 triệu người có công và thân nhân, có trên 1,2 triệu người đang hưởng ưu đãi hàng tháng; giai đoạn 2016-2020 đã cơ bản hỗ trợ dứt điểm đối với hộ người có công gặp khó khăn về nhà ở; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn; 99% xã phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ; giải quyết căn bản hồ sơ tồn đọng trong xác nhận người có công…
Vừa qua, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị về việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ, Ban Chỉ đạo của Chính phủ về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 18/NQ-TW về bổ sung, hoàn thiện phương án sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ, trong đó hợp nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ thành Bộ Nội vụ. Ngày 21/02/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ, vị trí, chức năng của Bộ Nội vụ được xác định là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; tổ chức chính quyền địa phương; cán bộ, công chức, viên chức và công vụ; lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội; việc làm; an toàn, vệ sinh lao động; hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức phi chính phủ; người có công; thanh niên; bình đẳng giới; văn thư, lưu trữ nhà nước; thi đua, khen thưởng và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ theo quy định của pháp luật.
Từ điểm tựa, nền tảng vững chắc qua truyền thống lịch sử, văn hóa và thành tựu to lớn của hai bộ hợp nhất, với vị thế mới, Bộ Nội vụ, ngành Nội vụ đang bước sang bước ngoặt mới, có ý nghĩa to lớn để đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Nền hành chính cũng bước vào giai đoạn phát triển mới, đó là xây dựng nền hành chính “Phục vụ - Dân chủ - Chuyên nghiệp - Tinh gọn - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả”.
NGÀNH NỘI VỤ TỈNH HƯNG YÊN: 80 NĂM ĐỒNG HÀNH, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Trải qua chặng đường 80 năm hình thành và phát triển, ngành Nội vụ tỉnh Hưng Yên - tiền thân là ngành Nội vụ, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên - luôn gắn bó, đồng hành cùng sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đổi mới và hội nhập. Trong suốt hành trình ấy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Nội vụ tỉnh Hưng Yên không ngừng nỗ lực rèn luyện, cống hiến, khẳng định vai trò nòng cốt trong việc tham mưu xây dựng tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, cải cách hành chính, thi đua - khen thưởng, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách đối với người và gia định người có công với cách mạng, góp phần tạo nên nền tảng thể chế vững chắc cho sự phát triển và đảm bảo an sinh xã hội của tỉnh. Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên đã tham mưu Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai nhiều chủ trương, chính sách mang lại kết quả nổi bật, cụ thể như sau:
1. Tham mưu kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính, hướng tới nền hành chính hiệu lực, hiệu quả
Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên đã chủ động tham mưu UBND tỉnh ban hành và triển khai quyết liệt các Đề án kiện toàn tổ chức bộ máy. Giai đoạn 2018-2024, tỉnh Hưng Yên (cũ) đã sắp xếp, giảm 17 đầu mối bên trong là các tổ chức hành chính và 08 đơn vị sự nghiệp công lập của 05 Sở sau khi được thành lập; giảm 20 phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; toàn tỉnh dự kiến giảm 35 đầu mối (không bao gồm Thanh tra tỉnh để thực hiện theo Đề án của Bộ Chính trị về sắp xếp các cơ quan thanh tra); tỉnh Thái Bình (cũ) còn 13 cơ quan chuyên môn và tương đương thuộc UBND tỉnh, giảm 05 cơ quan; còn 101 phòng và tương đương thuộc các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, giảm 34 phòng và tương đương, còn 72 phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, giảm 24 phòng, còn 812 đơn vị sự nghiệp công lập, giảm 15 đơn vị sự nghiệp công lập.
Công tác cán bộ luôn được xem là “trọng tâm của trọng tâm”. Sở Nội vụ đã tham mưu ban hành nhiều văn bản, quy định, hướng dẫn quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trước và sau sắp xếp đơn vị hành chính. Giai đoạn từ năm 2020 đến nay, 2.763 cán bộ, công chức, viên chức đã được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động luân chuyển, tại các sở, ban, ngành, xã, phường, đơn vị sự nghiệp - bảo đảm yêu cầu chính trị, pháp lý, nhân sự và tâm lý ổn định của đội ngũ. Căn cứ vào nhu cầu và chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Sở đã tham mưu tiến hành thi tuyển và xét tuyển hơn 4.300 công chức viên chức phù hợp với vị trí việc làm vào làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; nâng ngạch, thăng hạng, thỏa thuận xếp lương vào ngạch, chức danh nghề nghiệp đối với hơn 28.000 lượt cán bộ, công chức, viên chức.
Trong công tác tinh giản biên chế, Sở đã tham mưu cho tỉnh thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Trung ương, đảm bảo tinh giản ít nhất 5% công chức, 10% viên chức theo lộ trình. Giai đoạn 2022-2025, tỉnh đã giảm: (1) 122 biên chế công chức (tỉnh Hưng Yên cũ: 67 biên chế, tỉnh Thái Bình cũ: 36 biên chế, đang trình cắt tiếp 19 biên chế theo lộ trình của tỉnh Thái Bình cũ năm 2025); năm 2026 tiếp tục cắt giảm 43 biên chế (tỉnh Hưng Yên cũ: 16 biên chế và tỉnh Thái Bình cũ: 27 biên chế) và (2) 4.232 người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập so với năm 2021 (trong đó: tỉnh Hưng Yên cũ: 1.079 biên chế, tỉnh Thái Bình cũ: 2.364 biên chế, đang trình cắt tiếp 789 biên chế theo lộ trình của tỉnh Thái Bình cũ năm 2025), năm 2026 tiếp tục cắt giảm 920 biên chế của tỉnh Hưng Yên cũ (tỉnh Thái Bình cũ đã hoàn thành việc tinh giản biên chế giai đoạn 2022-2026).
Sở đã tham mưu cho tỉnh thực hiện nghiêm túc các chính sách hỗ trợ nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ thôi việc theo các Nghị định: số 177/2024/NĐ-CP; số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP. Đến tháng 7/2025, đã có 3.225 trường hợp được phê duyệt. Việc đánh giá, lập hồ sơ và phê duyệt danh sách đều thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định.
Bên cạnh đó, thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và thực hiện điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, Sở tham mưu hoàn thiện việc cập nhật CSDL bảo đảm 109 trường dữ liệu thông tin của CBCCVC theo Thông tư số 06/2023/TT-BNV ngày 04/05/2023. Tổng số hồ sơ đã đồng bộ: 65.700 hồ sơ, đạt 100% hồ sơ CSDL về CBCCVC của tỉnh kết nối, chia sẻ, đồng bộ với CSDLQG về CBCCVC của Bộ Nội vụ. Trên cơ sở đó, tham mưu triển khai thực hiện nghiêm túc và được đánh giá một trong những địa phương đi đầu trong công tác đánh giá, xếp loại chất lượng hằng tháng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
3. Xây dựng chính quyền địa phương hiện đại gắn với đổi mới tổ chức
Sở đã chủ động tham mưu, triển khai hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng chính quyền địa phương và sắp xếp đơn vị hành chính. Việc tổ chức thành công các kỳ bầu cử Đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp thể hiện sự vững mạnh của hệ thống chính trị và niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, Sở đã tham mưu cho tỉnh xây dựng các đề án lớn về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã và hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở các Nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh tiến hành rà soát, sắp xếp lại để thành lập 104 đơn vị hành chính cấp xã, hướng tới tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, phục vụ người dân tốt hơn, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.
4. Công tác Cải cách hành chính
Sở Nội vụ đã tham mưu triển khai đồng bộ các nội dung cải cách hành chính, đặc biệt là tự chấm điểm, đối chiếu minh chứng Chỉ số CCHC và chỉ số SIPAS theo hướng dẫn Bộ Nội vụ. Từ năm 2021 đến 2024, Chỉ số CCHC trung bình của tỉnh Hưng Yên luôn thuộc nhóm các tỉnh, thành phố có thứ hạng cao trong toàn quốc. Việc kiểm tra cải cách hành chính được thực hiện quyết liệt, toàn diện, đã tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, nâng cao ý thức phục vụ nhân dân, kỷ luật, kỷ cương hành chính.
5. Hiện đại hóa công tác văn thư, lưu trữ gắn với chuyển đổi số
Trong những năm qua, công tác văn thư, lưu trữ của tỉnh Hưng Yên đã có những bước tiến mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào hiện đại hóa nền hành chính và chuyển đổi số. Sở Nội vụ đã tham mưu UBND tỉnh ban hành các quyết định tạo cơ sở pháp lý và định hướng rõ ràng cho việc chỉnh lý, số hóa tài liệu lưu trữ và xây dựng Kho lưu trữ số của tỉnh đến năm 2030. Việc áp dụng phần mềm quản lý văn bản, cùng các giải pháp tiên tiến như lập hồ sơ điện tử ngay từ giai đoạn dự thảo văn bản và tự động hóa quá trình lập hồ sơ thủ tục hành chính đã giúp nâng cao hiệu quả quản lý tài liệu, đáp ứng yêu cầu của Đề án 06 và định hướng chuyển đổi số.
6. Hỗ trợ hiệu quả thị trường lao động và an sinh xã hội
Tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách hỗ trợ phát triển thị trường lao động linh hoạt, gắn chỉ tiêu tăng trưởng việc làm với mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tăng cường các hoạt động cung ứng lao động phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; phối hợp triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ việc làm cho người dân, người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng của tình hình dịch bệnh, thiên tai; đẩy mạnh hoạt động tuyển chọn, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức dài hạn, ngắn hạn (đặc biệt là mô hình hợp tác thí điểm đưa người lao động đi làm việc thời vụ tại một số địa phương của Hàn Quốc). Bình quân hàng năm tỉnh Hưng Yên đã tạo việc làm mới, việc làm tăng thêm cho trên 50.000 lao động (trong đó, trên 6.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài); tỷ lệ người lao động trong độ tuổi có việc làm của tỉnh luôn duy trì ở mức cao (trên 90%); tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt gần 80%; tỷ lệ thất nghiệp chung toàn tỉnh duy trì mức thấp dưới 2%. Nhìn chung, tình hình lao động khu vực doanh nghiệp và việc làm của người lao động cơ bản ổn định, số người lao động có việc làm ngày càng tăng theo chiều hướng bền vững, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
7. Tri ân người có công với cách mạng - Từ chính sách vượt trội đến hành động nghĩa tình
Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ người trồng cây”, trong những năm qua, tỉnh ta đã đặc biệt quan tâm đến công tác người có công với cách mạng, xem đây là nhiệm vụ chính trị, là đạo lý và là trách nhiệm thiêng liêng. Với sự tham mưu của Sở Nội vụ, nhiều chính sách, hoạt động mang tính vượt trội đã được triển khai góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người và gia đình người có công với cách mạng, 99% người có công đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình nơi cư trú.
Tính đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh có trên 550 nghìn lượt người có công được xác nhận, hơn 75 nghìn người đang hưởng trợ cấp hằng tháng với số tiền trên 242 tỷ đồng/tháng. Để việc giải quyết chế độ chính sách ngày càng được công khai, minh bạch, kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân đủ điều kiện được hưởng chế độ ưu đãi, toàn tỉnh đã tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Hiện tại, Sở đang ứng dụng 03 phần mềm trong lĩnh vực người có công gồm: Phần mềm quản lý chi trả chế độ ưu đãi người có công với cách mạng; Phần mềm quản lý hồ sơ người có công; Phần mềm dịch vụ công quốc gia. Đồng thời, thực hiện Đề án 06 của Chính phủ về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030, đến nay đã có trên 65 ngàn người nhận trợ cấp hàng tháng qua tài khoản, đạt tỷ lệ 87% số người hưởng chế độ ưu đãi thường xuyên.
Toàn tỉnh hiện có trên 332 công trình ghi công liệt sỹ và người có công với cách mạng. Các công trình ghi công liệt sỹ, mộ liệt sỹ, nghĩa trang liệt sỹ cơ bản được xây dựng bằng vật liệu cứng bền vững. Hàng năm, thông qua Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, các cấp đã huy động được hàng chục tỷ đồng cùng với ngân sách nhà nước tu bổ, cải tạo, nâng cấp các công trình ghi công liệt sĩ. Nhiều công trình ghi công liệt sỹ đã trở thành công trình văn hóa, có giá trị về mỹ thuật, giáo dục truyền thống cách mạng trong thế hệ trẻ.
Công tác thăm hỏi, tặng quà, tri ân người có công nhân các dịp lễ, tết đặc biệt được quan tâm, trú trọng. Chỉ tính riêng năm 2025, Sở Nội vụ đã đã tham mưu cho tỉnh tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, Ngày Chiến thắng (30/4) và Ngày Thương binh, Liệt sĩ cho 551 ngàn người có công với cách mạng và thân nhân liệt sỹ, tổng kinh phí lên đến hàng trăm tỷ đồng. Kết quả của công tác người có công và các phong trào Đền ơn đáp nghĩa trên địa bàn tỉnh đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà.
8. Công tác Kế hoạch - Tài chính
Trong những năm qua, công tác kế hoạch, tài chính đã có những bước tiến mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào hiện đại hóa nền hành chính và chuyển đổi số. Chú trọng làm tốt việc tổng hợp định kì, thường xuyên, đột xuất về công tác tài chính; kiểm tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Công tác quản lý chi trả cho người có công được tham mưu kịp thời.
9. Công tác Thi đua - khen thưởng
Trong những năm qua, công tác thi đua, khen thưởng đặc biệt được quan tâm chỉ đạo, có bước phát triển rõ nét và được đổi mới cả nội dung và hình thức. Sở Nội vụ đã tham mưu UBND tỉnh tổ chức thực hiện các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động như: phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” giai đoạn 2021-2025, “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2021-2025, “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025, "Đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số" giai đoạn 2025-2030,….; tham mưu tổ chức phát động các phong trào chuyên đề, phong trào thi đua theo đợt của tỉnh, các phong trào thi đua gắn liền với các nhiệm vụ chính trị quan trọng của tỉnh như: phong trào thi đua “Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính Nhà nước tỉnh Hưng Yên” giai đoạn 2022-2025, “Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm của tỉnh” giai đoạn 2021-2025; “Đẩy mạnh thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư trên địa tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2022-2025”; “Hưng Yên tăng cường thực hiện đề án chuyển đổi số” giai đoạn 2022-2025; "Đẩy mạnh thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 4 -vùng thủ đô Hà Nội"…..Các phong trào được triển khai bài bản, hình thức đa dạng, phong phú, có tiêu chí và nội dung thi đua rõ ràng, cụ thể, thiết thực, nhận được sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp Nhân dân, góp phần cổ vũ, động viên cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hăng hái thi đua phấn đấu, khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Từ các phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiến tiến, nhiều cách làm hay, sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Công tác khen thưởng được công khai, minh bạch, thực chất, chính xác, kịp thời, đúng đối tượng và có tính nêu gương cao từ đó từng bước đưa phong trào thi đua, công tác khen thưởng của tỉnh ngày càng đi vào thiết thực, hiệu quả. Giai đoạn 2021-2025, 431 tập thể và 746 cá nhân trong tỉnh đã được Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ tặng thưởng Huân chương các loại, các hạng, Cờ thi đua của Chính phủ, Chiến sỹ thi đua toàn quốc, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các hình thức khen thưởng khác; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng theo thẩm quyền cho 6.243 tập thể và 9.849 cá nhân.
10. Công tác QLNN về tôn giáo, tín ngưỡng
Trên cơ sở nắm chắc tình hình hoạt động của các tổ chức tôn giáo, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trên địa bàn đã được tăng cường và đi vào nề nếp, các hoạt động tôn giáo cơ bản tuân thủ các quy định pháp luật, không có điểm nóng. Thời gian qua, Sở Nội vụ đã kịp thời tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh ban hành Quy chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh và nhiều văn bản chỉ đạo về công tác tín ngưỡng, tôn giáo, tiêu biểu như: việc thực hiện các quy định trong phòng, chống dịch Covid-19 trong hoạt động tôn giáo; Kế hoạch công tác đối với đạo Tin lành giai đoạn 2021-2030; công tác tuyên truyền, triển khai cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 trong các tôn giáo; nội dung công tác trong dịp Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức Đại hội đại biểu nhiệm kỳ 2022-2027; công tác đối với hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới
Thường xuyên tổ chức các cuộc lễ, thăm, tặng quà và chúc mừng các ngày lễ trọng; gặp gỡ, trao đổi, động viên, nắm bắt tư tưởng, nguyện vọng của các chức sắc tôn giáo và tín đồ tôn giáo tạo được sự nhất trí giữa cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo với các chức sắc tôn giáo. Hằng năm, thực hiện tốt công tác tham mưu, tổ chức các Đoàn thăm hỏi, tặng quà chức sắc, chức việc, tổ chức tôn giáo dịp Tết Nguyên đán, dịp lễ trọng tôn giáo; giải quyết kịp thời, đúng quy định đề nghị của các tổ chức tôn giáo liên quan tới các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của Sở, ngành Nội vụ.
Vì vậy, trong những năm qua đời sống của đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh đã từng bước được cải thiện, lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước được nâng cao, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xây dựng địa phương phát triển, vững mạnh.
11. Về cơ cấu tổ chức, bộ máy, biên chế của Sở Nội vụ
Cùng với quá trình phát triển, hợp nhất, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ cũng không ngừng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Về chức năng, nhiệm vụ: Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới đơn vị hành chính; cán bộ, công chức, viên chức và công vụ; cải cách hành chính; hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; văn thư, lưu trữ nhà nước; thanh niên; lao động, tiền lương; việc làm; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; người có công; bình đẳng giới và theo phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uy ban nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Về cơ cấu tổ chức, bố máy của Sở: Sở Nội vụ có Giám đốc, 06 Phó Giám đốc; 10 tổ chức hành chính (gồm: Văn phòng; Phòng Kế hoạch – Tài chính; Tổ chức biên chế; Công chức viên chức; Xây dựng chính quyền; Cải cách hành chính và Văn thư lưu trữ; Người có công; Lao động và Việc làm; Ban Thi đua - Khen thưởng; Ban Tôn giáo – Tín ngưỡng) và 03 đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Dịch vụ việc làm; Trung tâm Điều dưỡng, Chăm sóc Người có công; Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh).
- Về biên chế: Hiện Sở Nội vụ có 147 công chức; 148 viên chức.
Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, ngành Nội vụ đã có rất nhiều những đóng góp qua trọng vào sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của tỉnh. Rất nhiều thế hệ cán bộ đã trưởng thành và phát triển, nhiều đồng chí đã được giữ những vị trí chủ chốt ở các Bộ, ngành Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh.
Ghi nhận, biểu dương những thành tích xuất sắc của ngành Nội vụ tỉnh trong suốt 80 năm qua, Đảng, Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch UBND tỉnh đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý cho Sở, các tập thể, cá nhân thuộc Sở, tiêu biểu như:
- Huân Chương Lao động Hạng Nhất năm 2014,
- Huân Chương Lao động Hạng Nhì năm 2009,
- Huân Chương Lao động Hạng Ba năm 2002;
- Cờ Thi đua xuất sắc của Chính phủ năm 2017, 2022;
Và đặc biệt, năm 2025, Sở Nội vụ vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng III.
Để đạt được những thành tựu, kết quả như trên, Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên đã đúc kết và rút ra được một số bài học kinh nghiệm để làm tiền đề tiếp tục thực hiện hiệu quả trong thời gian sắp đến, cụ thể như sau:
Thứ nhất, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo xuyên suốt của cấp ủy, chính quyền địa phương. Thành công trong công tác tổ chức cán bộ, sắp xếp bộ máy và cải cách hành chính trước hết đến từ sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời và nhất quán của cấp ủy, chính quyền các cấp. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chủ trương của Trung ương, Chính phủ thành chương trình hành động phù hợp với thực tiễn địa phương là yếu tố then chốt tạo nên sự đồng thuận và hiệu quả trong triển khai.
Thứ hai, lấy con người làm trung tâm trong cải cách tổ chức và quản lý. Trong quá trình tổ chức bộ máy, sắp xếp nhân sự và cải cách hành chính, việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức là điều kiện tiên quyết để tạo được sự ổn định, đồng thuận. Kinh nghiệm cho thấy, cần xây dựng chính sách nhân sự linh hoạt, có lộ trình, kết hợp hài hòa giữa yêu cầu tinh gọn và bảo đảm đời sống, tâm tư cán bộ.
Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát hiệu quả. Việc trao quyền chủ động cho các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt trong cải cách hành chính và quản lý công vụ, giúp nâng cao tính linh hoạt và sáng tạo. Tuy nhiên, để tránh tình trạng buông lỏng quản lý, Sở đã tham mưu cho tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, bảo đảm công khai, minh bạch và kịp thời chấn chỉnh sai phạm.
Thứ tư, chú trọng công tác thi đua, khen thưởng gắn với kết quả thực tiễn. Thi đua khen thưởng phải thật sự là động lực thúc đẩy phong trào lao động, sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Việc đổi mới phương thức đánh giá, lựa chọn các điển hình tiên tiến dựa trên hiệu quả công việc và tác động thực tiễn đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị.
Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Việc ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, tuyển dụng, đánh giá cán bộ, quản lý hồ sơ, thủ tục hành chính đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng phục vụ. Đây là hướng đi tất yếu và cần tiếp tục được ưu tiên đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu của nền hành chính hiện đại.
Thứ sáu, lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ cơ sở và người dân. Thực tiễn triển khai nhiệm vụ cho thấy, sự thành công của các chính sách, đề án phụ thuộc rất lớn vào quá trình lấy ý kiến, phản biện từ các tổ chức, cá nhân có liên quan. Việc kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, nhân dân góp phần điều chỉnh, hoàn thiện chủ trương phù hợp hơn với thực tế.
Bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao trong quản trị nhà nước, cải cách thể chế và xây dựng bộ máy hành chính hiện đại, ngành Nội vụ tỉnh Hưng Yên xác định rõ nhiệm vụ trong thời gian đến là “kế thừa những kết quả tích cực trong giai đoạn vừa qua, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc hơn nữa trong giai đoạn đến”. Đó không chỉ là đòi hỏi từ thực tiễn phát triển, mà còn là trách nhiệm chính trị trong việc hiện thực hóa khát vọng về một nền hành chính phục vụ, kiến tạo, minh bạch và hiệu quả. Trên cơ sở đó, Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên tập trung vào những định hướng, nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực ngành phụ trách. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, yêu cầu đặt ra là phải khẩn trương rà soát, xây dựng hệ thống văn bản pháp lý mang tính nền tảng, đặc biệt là các quyết định quy định về tổ chức bộ máy, biên chế, tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và phân cấp quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đây là cơ sở để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và ổn định trong vận hành bộ máy hành chính nhà nước các cấp.
2. Đổi mới tư duy và phương thức quản lý cán bộ, lấy kết quả thực chất làm thước đo. Chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiệu quả, theo đó cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hoàn thiện hệ thống đánh giá cán bộ theo kết quả công việc, tăng cường minh bạch, công khai và liên thông dữ liệu nhân sự. Đồng thời, tiếp tục tham mưu kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp trên nguyên tắc “đúng người - đúng việc - đúng thẩm quyền”, coi trọng phẩm chất chính trị, năng lực thực tiễn và tinh thần dấn thân vì công vụ. Chú trọng công tác tổ chức bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách chiến lược. Trong bối cảnh sáp nhập, việc bố trí, điều động cán bộ không chỉ nhằm giải quyết tình huống hành chính mà phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển lâu dài. Cần xây dựng đề án điều động, luân chuyển cán bộ giữa các cấp, ngành, khu vực địa bàn còn khó khăn.
3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền hai cấp và bảo đảm chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ cơ sở sau sắp xếp hành chính. Chủ động tham mưu UBND tỉnh rà soát, đánh giá toàn diện các điều kiện hoạt động, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc tại các xã, phường để đảm bảo mô hình chính quyền hai cấp vận hành hiệu quả, đồng bộ, thông suốt, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý hành chính. Tăng cường tham mưu, báo cáo tình hình cán bộ, công chức, viên chức và người hoạt động không chuyên trách sau sắp xếp đơn vị hành chính, tập trung xử lý kịp thời các vấn đề về nghỉ công tác và giải quyết chế độ, chính sách theo đúng quy định, đảm bảo giữ vững đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Song song đó, sẽ xây dựng và ban hành các quy định, hướng dẫn về nội dung, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã, đồng thời triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực công tác tại địa phương. Triển khai, hướng dẫn công tác sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo nguyên tắc tinh gọn, nâng cao tính tự quản, phục vụ thiết thực đời sống cộng đồng dân cư. Chủ động tham mưu các bước chuẩn bị và triển khai thành công công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
4. Nâng tầm cải cách hành chính, chuyển mạnh từ cải tiến quy trình sang cải cách thể chế. Yêu cầu cải cách hành chính không chỉ dừng lại ở đơn giản hóa thủ tục mà phải hướng đến mục tiêu sâu xa hơn: cải cách mô hình quản trị công, hiện đại hóa phương thức phục vụ nhân dân và doanh nghiệp. Sở Nội vụ sẽ tập trung tham mưu sơ kết chương trình CCHC giai đoạn 2021-2030, đánh giá toàn diện những điểm nghẽn và đề xuất giải pháp đột phá cho giai đoạn 2026-2030, tạo nền tảng cho sự vận hành trơn tru của bộ máy mới sau sáp nhập. Tập trung rà soát, xây dựng báo cáo tổng thể về công tác chỉnh lý và số hóa tài liệu lưu trữ trên toàn địa bàn, làm cơ sở xác định lộ trình ưu tiên các tài liệu cần chỉnh lý, số hóa nhằm bảo đảm hiệu quả, khoa học. Đặc biệt, cần thực hiện phân loại hồ sơ, chỉnh lý sơ bộ khối tài liệu bàn giao từ các huyện, thành phố cũ để xác định chính xác tài liệu có giá trị lưu trữ vĩnh viễn.
5. Bảo đảm an sinh xã hội thông qua các giải pháp giải quyết việc làm, phát triển thị trường lao động hiện đại. Theo đó, cần tập trung rà soát lại các chỉ tiêu phát triển lao động - việc làm gắn với định hướng công nghiệp hóa và chuyển đổi số. Chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần được triển khai có trọng tâm, linh hoạt và dựa trên phân tích cung - cầu thực tế của thị trường lao động. Hướng đến xây dựng hệ sinh thái việc làm thông minh, thúc đẩy tăng năng suất lao động và giảm tỷ lệ thất nghiệp bền vững.
6. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi người có công tiếp tục là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thể hiện đạo lý, trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Hưng Yên đối với những hy sinh, cống hiến to lớn của các thế hệ đi trước. Theo đó, tập trung tham mưu tổ chức chu đáo các hoạt động tri ân, đền ơn đáp nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và các dịp Lễ, Tết Nguyên đán,… Tiến hành rà soát, tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa chính sách đặc thù cho người có công và thân nhân, phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh. Đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm Điều dưỡng, Chăm sóc người có công, bảo đảm chăm sóc, phụng dưỡng đầy đủ, chu đáo cho 21 người có công đang được nuôi dưỡng tại đây. Đẩy mạnh phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” với hình thức ngày càng đa dạng, thiết thực, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các gia đình chính sách, tạo động lực để các thế hệ hôm nay tiếp nối truyền thống, xây dựng tỉnh Hưng Yên phát triển bền vững, nghĩa tình.
7. Nâng cao giá trị thực chất và lan tỏa của các phong trào thi đua - khen thưởng. Thi đua không chỉ là động lực tinh thần mà phải trở thành phương thức tạo đột phá. Cần tiếp tục đổi mới công tác thi đua theo hướng thiết thực, gắn với từng nhiệm vụ cụ thể; đồng thời xây dựng hệ thống khen thưởng có chiều sâu, đúng người, đúng việc, khích lệ đổi mới, sáng tạo trong toàn thể hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội. Đặc biệt trong năm 2025, Sở sẽ tham mưu cho Tỉnh tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Hưng Yên lần thứ I – một sự kiện mang ý nghĩa khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới.
8. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; thường xuyên kiểm tra, chủ động nắm bắt tình hình các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo tại các địa phương trên địa bàn tỉnh; duy trì, tăng cường sự phối hợp với các sở, ngành, UBND cấp xã trong việc tham mưu chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ về tín ngưỡng, tôn giáo, kịp thời phát hiện, giải quyết các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo phát sinh, không để xảy ra điểm nóng về tín ngưỡng, tôn giáo.
Trong dòng chảy 80 năm đầy tự hào của ngành Nội vụ Việt Nam, Sở Nội vụ tỉnh Hưng Yên luôn là một điểm sáng về đổi mới, sáng tạo và quyết liệt hành động. Trong hành trình phía trước, dù còn không ít khó khăn, thách thức, nhưng với truyền thống vẻ vang, với bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần phục vụ tận tụy, ngành Nội vụ tỉnh Hưng Yên quyết tâm nỗ lực phấn đấu, đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng phục vụ, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao; tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong kiến tạo nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp, xứng đáng với niềm tin của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh nhà.
