Quốc huy
Chào mừng bạn đến với Cổng thông tin điện tử xã Vũ Thư, tỉnh Hưng Yên!

Lịch sử Miếu Đông (miếu Hồng Ân) - thôn Thống Nhất, xã Vũ Thư

Hằng năm, cứ vào ngày mùng 3 tháng giêng, nhân dân làng Phú Tùng trước kia, nay là thôn Thống Nhất, xã Vũ Thư long trọng mở Lễ hội Miếu Đông để tri ân công đức của anh liệt tướng quân Đoàn Thượng trong không khí tưng bừng đón tết Nguyên đán.

Miếu Đông là một ngôi miếu cổ có từ nhiều thế kỷ trước, toạ lạc ở phía Đông của làng Bình An trước kia, nay thuộc thôn Thống Nhất, xã Vũ Thư.Theo thạch phả được đặt tại Miếu do Lý trưởng Nguyễn Mậu Môn khắc năm 1919, làng Bình An có 12 lần thay đổi tên. Khởi đầu vào đời Tiền Lê năm 1009 làng có tên là Phú Tùng (miền đất trù phú, con người vững vàng như tùng bách). Về sau đến thời chúa Trịnh vì trùng tên với chúa Trịnh Tùng nên cải chữ Tùng thành chữ Tòng, tên gọi mới là làng Phú Tòng. Nhân dân quen gọi nôm na là làng Thông, cạnh đó là chợ Thông, Trại Thông cũng có tên từ đó. Đến đời hậu Lê, làng Phú Tòng đổi tên thành làng Phú An; sau đổi là làng Bình An. 

Từ ngày thành lập, làng Phú Tùng thời nào cũng có những gia đình và những người nổi tiếng về tinh thần cách mạng. Thời tiền khởi nghĩa vào khoảng năm 1883-1884 Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần thứ hai, cụ Nguyễn Duy Truy đã từng sát cánh chiến đấu với cụ Đốc Phước là thủ lĩnh chống Pháp kiên cường; rồi cụ Đặng Văn Trực, Đặng Văn Lộc theo nghĩa quân Đề Thám chống Pháp ở đồn điền Phồn Xương Yên Thế; gia đình cụ Đô Thát không sợ hiểm nguy nuôi dấu cán bộ; là nơi đi về hoạt động cách mạng của đồng chí Hào Lịch - Bí Thư Tỉnh uỷ năm 1932; rồi bà Hà Thị Quế sau này là Chủ tịch Hội phụ nữ Việt Nam; nổi tiếng là bộ đội Ký Con do cụ Đội uy chỉ huy; còn biết bao những gia đình cách mạng và chiến sĩ cách mạng nổi tiếng khác của làng theo nghiệp binh đao hy sinh cho Tổ quốc trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.

Làng Phú Tùng xưa không những nổi tiếng về những anh hùng hào kiệt mà còn là địa danh nổi tiếng một vùng về văn hoá. Địa phương có rất nhiều địa danh nổi tiếng về đình chùa miếu mạo. Đi dọc con đường Cái Dâu (nay là con đường Nguyễn Trãi) đi vào cuối làng đầu tiên là Chùa Thẫm, miếu Âm Hồn – một ngôi miếu sừng sững cạnh đường, chùa Thanh Hoa với gác chuông đẹp thứ nhất nhì trong vùng, rồi Miếu Đông trước kia gọi là Đền Phú Tùng - một ngôi miếu linh thiêng thờ một vị tướng thời Lý, rồi Tường Hà - một bức tường đắp toàn bằng vỏ hà, rồi cây ruối đôi ly kỳ, rồi ao hồ trong mát, tiếp đó là Đình Hát bảy gian - như là một nhà văn hoá, liên tục đón gánh hát chèo của Cụ Mầm, Từ Văn, Từ Chỉ. Đây là nơi đồng chí Tống Văn Phổ về mở lớp truyền bá lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin năm 1926, 1927 cho nhân dân. Không thể không kể đến Cồn Ốc, Miếu Mòi có cây Muỗm cổ thụ gần 3 trăm tuổi là chứng tích lịch sử của một thời du kích Hoà Bình lấy đó làm nơi viễn tiêu canh giặc vào làng.

Nói như trên để chúng ta thấy Ngôi miếu Đông được đặt trong một miền đất Địa linh nhân kiệt hiếm có trong vùng.

Tuy nhiên, tất cả những di tích và địa danh kể trên qua chiến tranh, qua sự thay đổi thời đại, cho đến nay không còn một dấu vết. Lưu giữ nguyên vẹn duy nhất đến nay chỉ còn lại ngôi Miếu Đông vẫn toạ lạc hiên ngang tại thôn Thống Nhất.

Vậy Miếu Đông thờ vị thần nào?

Miếu Đông thờ một vị tướng cuối thời nhà Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Ngài họ Đoàn huý Thượng, sinh giờ Nhâm Dần, ngày Giáp Dần (ngày 10 tháng giêng) năm Nhâm Dần 1184 tại làng Bổng Độ, huyện Trường Tân, lộ Hồng Châu nay là xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ngài là em nuôi của vua Lý Huệ Tông, là một vị quan trung thành hết mực với nhà Lý, lại có sức khoẻ phi thường, văn võ song toàn nên được vua Lý cử làm Đô uý điều khiến trấn thủ mặt biển Đông, chống phong kiến phương Bắc. Đặc biệt, Ngài đã cùng quân đội chống trả bọn cướp biển chuyên đột nhập vào đất liền đốt nhà giết người vùng duyên hải Bắc Bộ.

Đối với nông nghiệp, Ngài có công lớn với nhân dân là lăn xả váo công việc vận động nhân dân chung sức trị thuỷ, cơi đắp bờ vùng, quai đê ngăn lũ, tìm giống lúa chín sớm trước mùa lũ sông Hồng, dậy dân trồng lúa Lốc ba giăng và cho người đến từng vùng dậy nhân dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, chăn nuôi gia súc, gia cầm cho nhân dân các vùng Long Hưng, Sơn Nam. Đặc biệt là Ngài đã huy động phá kho thóc nhà Lý do bọn hào trưởng tham nhũng để phát chẩn cho dân chúng các tỉnh bị lụt lội, cứu vớt bao nhiêu sinh linh bị nạn lũ lụt hoành hành và bọn cường hào thời Lý áp bức đe dọa tính mạng. Chắc chắc chắn đời tổ tiên, cha ông chúng ta xưa kia cũng được nhờ ơn mưa móc này của ngài Đoàn Thượng.

Rồi lịch sử sang trang, khi Triều Lý chuyển sang triều Trần do vua bà Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho chồng là Trần Cảnh một cách êm ả. Nhưng là một tổn thất của nhà Lý, hết lòng trung thành vời triều Lý nên tướng Đoàn Thượng không phục, có ý chống lại. Trước tình cảnh này, Thái sư Trần Thủ Độ đã tìm cách xui Nguyễn Nộn, bạn của tướng Đoàn Thượng đang đóng quân ở Bắc Giang tìm cách giết tướng quân Đoàn Thượng để trừ hậu hoạ. Tướng Nguyễn Nộn ham bổng lộc, nên đã tìm cách phản bạn bằng cách mời bạn đến hội quân tại Bần - Hưng Nhân, tướng Đoàn Thượng tin bạn nên đem ít quân đến chỗ hẹn, bất ngờ Nguyễn Nộn ra tay trước, hai bên đánh nhau nhiều hiệp nhưng không phân thắng bại. Thấy vậy quân Trần phục kích bất ngờ tứ phía xông ra, chém rơi đầu Tướng Đoàn Thượng tại Bần - Hưng Nhân.

Về sau các triều Trần và triều Nguyễn đều kính trọng người trung nghĩa nên sức về các địa phương lập đền thờ tưởng nhớ công lao của Ngài. Do đó cả vùng Hồng Châu có tới 72 ngôi đền thờ Ngài trong đó có Ngôi đền Phú Tùng này (Đó là chính sử được ghi chép lại).

Huyền thoại về Miếu Đông và quần thể cổ sử Miếu Đông

Sự hy sinh của ngài Đoàn Thượng là như thế, nhưng nhân dân làng Phú Tùng do yêu quý Ngài nên đã truyền khẩu một truyền thuyết rất đẹp về Ngài như sau:

Câu chuyên kể lại rằng vào một buổi chiều mùa hè, từ xa xa thấy có một vị tướng vóc dáng phi phàm đang nằm rạp trên lưng ngựa phi như bay về phía biển Đông; Vị tướng đó đến một bãi thông cạnh một con đường mòn thì dừng ngựa và vào một quán nước nghỉ chân; bà cụ bán nước giật mình thấy một vị tường to cao, râu dài nhưng máu nhuộm đỏ chiến bào; cụ ngạc nhiên hỏi, thì vị tướng không trả lời mà hỏi rằng: bà thấy liệu tôi có qua khỏi không; bà cụ bèn cởi chiếc khăn mỏ quả đội trên đầu của mình băng lại vết thương đang rỉ máu trên cổ Ngài vừa nói: Ngài không qua khỏi, mong ngài hãy tìm một vùng đất cao để nghỉ qua đêm; Vị tướng nghe lời, dắt ngựa quay lại tìm một gò bằng phẳng nằm xuống, đầu gối trên thanh đại đao; sáng hôm sau dân làng nghe bà cụ kể vội kéo ra gò đất gần đấy thì lạ thay gò đất đã được mối đùn lên rất to phủ kín thi hài vị tướng quân; xung quang gò đất cao là chi chít dấu chân ngựa chạy nhiều vòng rồi ngã xuống cách đó chừng trăm mét; nơi ông ngựa nằm xuống cũng được mối phủ kín thành mộ gò dài như yên ngựa. Hiện nay vẫn còn những dấu tịch gò đồi. Dân làng truyền miệng rằng đó là lăng Quan thánh, lăng Bà Đồ và lăng ông Ngựa. Cho đến giờ, Lăng quan Thánh và lăng Bà đồ đã được dân làng tu sửa khang trang, riêng lăng ông ngựa thì nằm trong đất trường cấp ba Nguyễn Trãi, nay không còn vết tích. Nhân dân làng Phú Tùng cảm phục tấm lòng trung nghĩa và công ơn lớn lao của tướng quân Đoàn Thượng đã lập đền thờ lấy tên là Đền Phú Tùng, tôn tướng quân làm Phúc thần Thành Hoàng Đương cảnh. Diệu huệ của Thần là ĐƯƠNG CẢNH THÀNH HOÀNG, HẢI MÔN TRẤN,  ĐÔ UÝ TÔN THẦN. Ngôi miếu trải qua nhiều thế kỷ đã được các cụ nhiều đời làm trưởng nhang và tổ chức thờ cúng như: Cụ Vê, Cụ Khánh, Cụ Khè, Cụ Quýt, Cụ Gái, Cụ Giáp, Cụ Phác, gần đây Bà Miễn và bà Liên đã thường xuyên tổ chức hương khói cúng lễ Ngài.

Đền Phú Tùng (gọi là Miếu Đông) được kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, nhiều câu đối rất có giá trị. Đặc biệt trong Miếu còn lưu giữ bản gốc Đạo Sắc phong thời vua Thành Thái năm 1889 và đạo sắc phong thời vua Khải Định năm 1924. Những kỷ vật vô cùng quý giá ít nơi có được, để Chính quyền xã và nhân dân ta có cơ sở quý báu đề nghị cấp Tỉnh công nhận Di tính Lịch sử Miếu Đông là di tích lịch sử cấp Tỉnh nay mai, sánh ngang bằng với các di tích lịch sử khác trong toàn xã.

Nhiều năm qua, Lãnh đạo Đảng, Chính quyền và nhân dân trong toàn xã, bà con xa quê và bà con thập phương rất quan tâm đóng góp tiền của để tu sửa ngôi Miếu ngày một khang trang từ thời cụ Phác là chủ nhang. Đồng thời bà con gần đây đã tổ chức xây dựng lăng Quan Thánh, lăng Bà Đồ thành một quần thể di tích cổ sử của xã để trở thành một điểm đến của du khách thập phương.

Miếu Đông - một ngôi miếu linh thiêng được cha ông chúng ta xây dựng để nhớ ơn Thành hoàng Đô uý tôn thần. Ngày nay chúng ta tiếp nối cha ông bảo tồn di tích ngày một khang trang để Ngài che chở cho dân làng Bình An chúng ta với đúng nghĩa bình an trong cuộc sống.


Bản đồ hành chính Xã Vũ Thư
Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

373lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng73%
272 lượt đánh giá
Hài lòng8%
28 lượt đánh giá
Bình thường8%
28 lượt đánh giá
Không hài lòng0%
0 lượt đánh giá
Ý kiến khác12%
45 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
1.902.394
Tổng truy cập
1.748
Truy cập hôm nay
57
Đang online